Một vài suy nghĩ về các yếu tố hợp thành quá trình giáo dục của loại hình trường chuyên biệt

Mặc dù đã có lịch sử hình thành và phát triển hàng trăm năm nay (Trung tâm điếc điếc Thuận An – Bình Dương đã ra đời cách đây hơn 100 năm) nhưng việc nghiên cứu về các yếu tố cấu thành quy trình dạy học (QTDH) của loại hình nuôi dạy trẻ khuyết tật về thính giác hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính chất hệ thống. Các hoạt động nghiên cứu chỉ mới thực hiện trong những năm gần đây nhất là khi thành lập khoa giáo dục đặc biệt tại các trường cao đẳng và ĐHSP. Tuy nhiên các hoạt động nghiên cứu này còn mang tính rời rạc, chưa có tính hệ thốngvà cũng chưa có công trình nghiên cứu nào đưa những cơ sở lý luận vững chắc trên cơ sở tổng kết thực tiễn dạy và học đối với đối tượng là trẻ khiếm thính được nuôi dạy tại các trường chuyên biệt .

         

       Về mặt quản lý Nhà nước các văn bản pháp quy như pháp lệnh về người khuyết tật do Quốc hội ban hành quyền trẻ em của Liên hợp quốc, Luật giáo dục khi đề cập đến người khuyết tật, trẻ em khuyết tật cũng chỉ quy định “Đảm bảo cho trẻ được hưởng quyền học tập như những người học khác”, “Không kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người khuyết tật”… Đấy là những vấn đề có tính chất chỉ đạo và định hướng chung đối với người khuyết tật và những trẻ khuyết tật. Các vấn đề cụ thể như quy chế, điều lệ loại hình trường khuyết tật, các tiêu chuẩn cơ sở vật chất và kỹ thuật của trường khuyết tật đều chưa được Bộ GD – ĐT ban hành; nội dung chương trình dành cho các trường khuyết tật chỉ mới được Viện khoa học giáo dục ban hành chương trình lớp 1 để thử nghiệm  đối với các trường khiếm thính trong toàn quốc. Về phương pháp dạy học thiếu các cơ sở tâm lý học của trẻ khiếm thính tuy vấn đề này có đề cập đến trong một vài giáo trình và các bài viết nhưng còn rãi rác, chưa mang tính hệ thống. Các bài viết và pháp lệnh về người khuyết tật tuy có nhấn mạnh đến “Việc hòa nhập” của trẻ khuyết tật đối với cộng đồng nhưng việc giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp để trẻ thực sự có đủ khả năng sống hòa nhập như thế nào thì chưa được đề cập đến một cách cụ thể. Nói chung, các yếu tố tạo thành QTGD trẻ khuyết tật nói chung và trẻ khiếm thính nói riêng như mục tiêu giáo dục, nội dung – phương pháp giáo dục, phương tiện giáo dục, đối tượng giáo dục… Còn thiếu và chưa đồng bộ. Điều đó đã gây không ít khó khăn cho các trường nuôi dạy trẻ khuyết tật và dẫn đến tình trạng mỗi nơi làm một phách, không có sự đồng nhất giữa các trường.

          Bằng kinh nghiệm trong những năm công tác tại trường Khiếm thính Lâm Đồng và qua học hỏi các bạn đồng nghiệp tôi xin trình bày một số suy nghĩ của mình về các yếu tố tạo thành QTGD của loại hình trường nuôi dạy trẻ khuyết tật về thính giác như sau:

           Trước hết, cũng như bao nhiêu trường phổ thông khác các yếu tố tạo thành QTGD của trường dạy trẻ khiếm thính bao gồm : Mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương tiện giáo dục, nguyên tắc giáo dục, đối tượng giáo dục. Các yếu tố này có tác động qua lại và quan hệ chặt chẽ với nhau và hợp lại để trở thành hệ thống của quá trình giáo dục .

          Mục tiêu giáo dục được đặt ra căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý, lứa tuổi, trình độ nhận thức, khả năng tiếp thu của đối tượng giáo dục. Mục tiêu giáo dục đặt ra phải phù hợp với đối tượng giáo dục, tức là mục tiêu đó phải “Vừa sức” tiếp nhận của đối tượng giáo dục

          Trong hệ thống này, mục tiêu giáo dục là yếu tố quyết định và chi phối toàn bộ quá trình giáo dục. Dựa vào mục tiêu giáo dục, người ta lựa chọn các nguyên tắc giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và các phương tiện giáo dục.                 

          Đối với loại hình trường nuôi dạy trẻ khiềm thính, qua kinh nghiệm thực tiễn công tác và qua nghiên cứu các tài liệu đề cập đến việc giáo dục trẻ khuyết tật, chúng ta có thể xác định “Mục tiêu giáo dục trẻ khiếm thính là nhằm thực hiện quyền trẻ em, luật giáo dục và luật về người khuyết tật bảo đảm cho việc phát triển tối đa của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ có khả năng sống hòa nhập với cộng đồng:

          1. Đảm bảo cho trẻ được hưởng quyền học tập như những người học khác.

          2. Được hướng nghiệp và dạy nghề để trẻ có khả năng kiếm sống, đóng góp cho gia đình và xã hội.

          3. Được phục hồi chức năng nghe – nói, tùy theo mức độ khiếm thính và điều kiện kỹ thuật hỗ trợ.

          4. Trẻ được chăm sóc – nuôi dưỡng để phát triển về thể chất.

          5. Được giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp để sống hòa nhập với cộng đồng”.       

          Mục tiêu giáo dục nêu trên cho ta thấy, QTGD trẻ khiếm thính phải bảo đảm cho trẻ phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần, cả về kiến thức lẫn kỹ năng, cả về văn hóa lẫn nghề nghiệp. Đây chính là những điều kiện cần và đủ để trẻ có thể vào đời và sống hòa nhập.

          Từ việc xác định mục tiêu nêu trên ta có thể xác định được các nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, nguyên tắc giáo dục, phương tiện giáo dục đối với trẻ khiếm thính. Về nội dung giáo dục để “Đảm bảo cho trẻ được quyền học tập như những người học khác”, điều kiện bắt buộc là các trường khiếm thính phải lựa chọn và vận dụng các chương trình giáo dục của các trường phổ thông để vừa đảm bảo cho trẻ đạt được “Chuẩn giáo dục” tối thiểu như học sinh bình thường khác, vừa phù hợp với đặc điểm tiếp nhận giáo dục của trẻ khiếm thính. Hiện tại, để đáp ứng yêu cầu này, Viện khoa học giáo dục Việt Nam đã ban hành chương trình khung của lớp 1. Chương  trình này là chương trình vận dụng chương trình lớp 1 bậc tiểu học , trong đó có tính đến các đặc điểm tiếp nhận của trẻ khiếm thính. Ngoài chương trình lớp 1 của Viện các cấp lớp còn lại, các trường đều vận dụng chương trình phổ thông hiện hành để tổ chức dạy và học cho học sinh khiếm thính. Riêng ở bậc THCS và THPT, các trường đều vận dụng chương trình bổ túc THCS, bổ túc THPT- đây là những chương trình phổ cập phù hợp với khả năng học tập của học sinh. Việc vận dụng chương trình phổ thông để tổ chức dạy và học cho học sinh khiếm thính thể hiện qua các yêu cầu sau:

          - Đảm bảo mặt bằng và chuẩn  kiến thức chung của bậc học, cấp học.

          - Đảm bảo tính vừa sức đối với khả năng tiếp nhận của từng  học sinh.

          - Đảm bảo đặc điểm của từng vùng, miền, từng địa phương.

          - Như vậy, chỉ tính riêng chương trình dạy văn hóa, các trường dạy trẻ khiếm thính một mặt phải đảm bảo thực hiện các mục tiêu tối thiểu của bậc học. Chẳng hạn , ở bậc tỉểu học trẻ phải được các yêu cầu đọc – hiểu các văn bản, biết viết một đọan văn – bài văn theo yêu cầu của bậc học, biết làm các phép tính, làm các bài tính có lời giải …

          Mặt khác, khi vận dụng chương trình, các trường cũng phải tính đến khả năng tiếp nhận của học sinh. So với học sinh bình thường, học sinh khiếm thính gặp một rào cản rất lớn về ngôn ngữ.

          Theo thống kê, đối với trẻ bình thường khi vào lớp 1 đã có khoảng trên 900 từ thông dụng, đã biết nói một cách hoàn chỉnh các câu giao tiếp thông thường. Ngược lại, đối với trẻ khiếm thính khi vào lớp 1 hầu như không có  một vốn từ nào, trẻ không thể giao tiếp bằng ngôn ngữ nói như bao trẻ bình thường khác. Điều này đã gây khó khăn  rất lớn trong quá trình dạy và học của cả giáo viên và học sinh.

          Khó khăn này có thể khắc phục được phần nào nếu như trước đó (từ 0 tuổi đến 3 tuổi) trẻ được can thiệp sớm (CTS), được trang bị máy nghe phù hợp và được tập luyện nghe – nói thường xuyên với những người xung quanh. Thực tế cho thấy, công tác CTS cho trẻ đạt hiệu quả rất thấp do nhiều nguyên nhân như trẻ không được đeo máy trợ thính  thích hợp, ở gia đình trẻ không được đeo máy thường xuyên, sự quan tâm của phụ huynh còn nhiều hạn chế (do bận bịu làm ăn nên ít quan tâm đến trẻ).

          Do đó, đa số trẻ tham gia công tác CTS khi đến 5 tuổi đều không có khả năng học hòa nhập mà phải học tại trường chuyên biệt.

          Với những đặc điểm này, khi xây dựng chương trình dạy và học, các trường không thể đạt mục tiêu quá cao như yêu cầu học sinh phải viết được những bài văn trôi chảy mạch lạc, gợi hình, gợi cảm, học sinh phải giải được những bài toán khó, toán một hai sao dành cho học sinh khá, giỏi ở sách bài tập vv. Do đó tính vừa sức là một yêu cầu bắt buộc đối với các trường dạy trẻ khuyết tật về thính giác và kiểm tra – đánh giá học sinh một yếu tố không thể thiếu là phải động viên – khuyến khích  học sinh vươn lên, trân trọng những thành tích dù là nhỏ nhất của học sinh. Đối với vấn đề này, các giáo trình của các nhà nghiên cứu về tật học đều thống nhất “Phương pháp kiểm tra – đánh giá học sinh khuyết tật động viên là chính” (Nguyễn Xuân Hải) . Quá trình kiểm tra đánh giá học sinh cần vận dụng một cách linh hoạt các quy chế của các trường phổ thông – BTVH để vừa đảm bảo quy chế mà đảm bảo nguyên tắc “Vừa sức” đối với học sinh

          Về đặc điểm vùng, miền, địa phương, trong quá trình xây dựng chương trình, các trường dạy khiếm thính cần đặc biệt lưu ý  đến các vấn đề sau:

          - Từ địa phương, từ phổ thông.

          - Các bài văn, các bài toán phải gần gũi đối với cuộc sống các em để các em có thể  “Thấy”, có thể trãi nghiệm mới có thể tiếp thu được nội dung bài học.

          Do đó, khi xây dựng chương trình, các trường có thể thay thế các bài văn, những bài học tìm hiểu tự nhiên – xã hội xa lạ với các em bằng cách soạn lại những bài học khác. Những bài học thay thế này phải đảm bảo các yêu cầu về mặt sư phạm như những bài học cần thay thế hướng tới như “Từ khóa”, từ vựng, ngữ pháp…Cách tốt nhất là trong các bài học thay thế, người sọan phải chú ý sử dụng “Lời ăn, tiếng nói hàng ngày”. Nơi địa phương nơi các em đang sinh sống, đưa cảnh vật mà các em “Đã thấy”, đã trãi nghiệm vào các bài học.

          Về phương pháp dạy học một điều cần xác định rõ là PPDH phổ thông là nền tảng và PPDH đối với trẻ  khiếm thính có những phương pháp đặc thù, có những nét riêng so với phương pháp dạy học phổ thông. Do đó, quan điểm tuyệt đối hóa phương pháp dạy học phổ thông hoặc cô lập hóa phương pháp dạy học trẻ khiếm thính là những quan điểm sai lầm mà các trường dạy trẻ khiếm thính cần phải tránh. Phương pháp dạy học trẻ khiếm thính kế thừa và phát triển những phương pháp dạy học phổ thông. Cũng như phương pháp dạy học phổ thông, phương pháp dạy học trẻ khiếm thính có những phương pháp dạy học như phương pháp dùng lời nói như: Nêu vấn đề , hỏi – đáp, diễn giải, phương pháp diễn dịch, quy nạp; các phương pháp minh họa như trực quan, làm mẫu – bắt chước, mô phỏng, tổ chức trò chơi vv. Tất cả các phương pháp dạy học phổ thông đều có thể áp dụng để dạy trẻ khiếm thính và cũng như việc vận dụng các phương pháp dạy học ở phổ thông, phương pháp nào cũng có ưu điểm và hạn chế riêng, không có phương pháp nào là vạn năng mà trong QTDH, người giáo viên có thể sử dụng linh hoạt các phương pháp khác nhau, lấy ưu điểm của phương pháp này để hạn chế nhược điểm các phương pháp kia. Các phương pháp dạy học phải phù hợp với đặc trưng bộ môn, nội dung bài dạy và đối tượng học  sinh.

          Về mặt đối tượng học sinh, đây là điểm khác biệt so với học sinh phổ thông như đã phân tích ở phần trên; do đó các PPDH trẻ khiếm thính lại mang tính đặc thù, tính khác biệt so với PPDH phổ thông. Điểm khác biệt đầu tiên là trước khi bắt đầu giờ dạy, bao giờ người giáo viên cũng phải kiểm tra máy trợ thính, kiểm tra sức nghe của học sinh… Có thể nói, hiện tại đa số trường khiếm thính tại Việt Nam, máy trợ thính là phương tiện duy nhất để giúp học sinh phần nào phần nào vượt qua rào cản về âm thanh – mà ngôn ngữ lại là những quy ước của xã hội về mặt âm thanh – chữ viết và ý nghĩa. Học một ngôn ngữ  nào cũng phải bao gồm các kỹ năng: nghe - nói - đọc - viết.

          Mặt khác, đối với cộng đồng người khiếm thính , ngôn ngữ giao tiếp trong cộng đồng  này chủ yếu là “Ngôn ngữ cử chỉ – điệu bộ”. (Hiện nay việc thống nhất về mặt từ điển ngôn ngữ cử chỉ – điệu bộ là một việc làm mang tính cần thiết – công tác này hiện do Khoa giáo dục đặc biệt TP Hồ Chí Minh biên soạn). Đặc điểm giao tiếp bằng ngôn ngữ cử chỉ – điệu bộ của cộng đồng người khiếm thính đòi hỏi người giáo viên trong quá trình dạy học phải nắm bắt được ngôn ngữ này  để hiểu học sinh “Nói” gì và phải dùng ngôn ngữ này để “Nói” với học sinh, giảng giải để giúp học sinh hiểu được nội dung bài học bên cạnh ngôn ngữ nói bình thường với sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật. PPDH dùng ngôn ngữ cử chỉ – điệu bộ là PPDH đặc thù của các trường dạy học học sinh khiếm thính.

          Một PPDH khác mang tính đặc thù và thể hiện xuyên suốt QTDH, ở tất cả các bộ môn, ở trong và ngoài giờ lên lớp là phương pháp hội thoại, tức là phương pháp trò chuyện với học sinh nhằm tăng cường sức nghe – luyện nói trau dồi vốn từ vựng – ngữ pháp cho học sinh. Thực tế cho thấy, phương pháp hội thoại đã được các giáo viên trường dạy trẻ Khiếm thính sử dụng xuyên suốt qua tất cả các bài học, các môn học. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả trong việc luyện nghe – luyện nói cho học sinh điếc nhẹ, điếc vừa với sự hỗ trợ của máy trợ thính phù hợp. Đối với số học sinh điếc nặng và điếc sâu, phương pháp này góp phần củng cố sức nghe còn lại của các em và các em tiếp thu lời nói qua việc đọc hình miệng của người đối thoại với sự hỗ trợ của máy trợ thính và ngôn ngữ cử chỉ – điệu bộ.

          Về phía người dạy, có thể nói giáo viên dạy trẻ khiếm thính ở các trường chuyên biệt có vị trí và vai trò hết sức quan trọng:

          - Là người trực tiếp tổ chức hoạt động dạy và học

          - Người tổ chức hoạt động giáo dục

          - Phối hợp với gia đình và tham gia cùng các cá nhân , nhóm, tổ chức xã hội giúp đỡ trẻ khuyết tật trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp.

          Để đáp ứng được vai trò, vị trí nêu trên, người giáo viên dạy trẻ khiếm thính phải không ngừng học tập để ngày càng hoàn thiện về chuyên môn – nghiệp vụ như:

          Phải nắm chắc nội dung và phương pháp dạy học của cả ngành học phổ thông và giáo dục đặc biệt cho trẻ khiếm thính theo hướng “Cá biệt hóa QTGD” và xây dựng – thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ (Giáo dục – dạy học phân hóa, trong đó quan tâm đến nhu cầu mặt mạnh – mặt yếu của từng đứa trẻ) có nội dung – phương pháp giáo dục – dạy học thích hợp trên cơ sở chương trình “Khung” của Viện khoa học giáo dục và của nhà trường. Dựa vào chương trình “Khung” này, người giáo viên có thể thay đổi, thêm bớt, bổ sung và định ra thời gian giáo dục và dạy học phù hợp, trong đó có tính đến các yếu tố: trình độ chuẩn tối thiểu của môn học, bậc học, tính vừa sức của học sinh như đã để cập đến ở phần nội dung chương trình).

          Phải có các kỹ năng như:

          * Năng lực hiểu trẻ: khả năng – nhu cầu sở thích của trẻ

          * Năng lực xây dựng mục tiêu, lập kế hoạch giáo dục cá nhân (năng lực dựa vào điểm mạnh, khắc phục những hạn chế của trẻ, xác định các kỹ năng – phẩm chất cần hình thành cho trẻ)

          * Năng lực cảm hóa và giáo dục trẻ

          * Năng lực tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp

          * Năng lực thiết lập các mối quan hệ: trẻ – trẻ, trẻ - giáo viên, trẻ – với nhóm, trẻ – mọi người xung quanh

          * Năng lực đánh giá sự phát triển và tiến bộ của trẻ theo hướng “Khích lệ – động viên là chính”.

          Giáo dục trẻ khuyết tật mang tính nhân đạo và nhân văn sâu sắc, do đó, người giáo viên dạy trẻ khiếm thính ngoài việc dạy phải có tấm lòng “Yêu nghề – mến trẻ như bao người giáo viên bình thường khác còn phải có tấm lòng của người mẹ để yêu thương, chia sẽ, thông cảm và giúp đỡ trẻ khuyết tật một cách kiên trì, nhẫn nại, phải biết trân trọng và biểu dương những tiến bộ dù nhỏ nhất của trẻ (những tiến bộ này nếu so với học sinh bình thường khác có thể giáo viên  không nhìn thấy được hoặc không đáng kể, thậm chí là chậm tiến bộ).

          Bên cạnh việc dạy văn hóa, hiện nay tại các trường giáo dục chuyên biệt đều chú trọng hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh. Có thể nói hướng nghiệp và dạy nghề là một yếu tố hợp thành không thể thiếu trong hệ thống QTGD. Đây là một trong những yếu tố mang tính quyết định trong việc thực hiện mục tiêu “Trẻ được hướng nghiệp và dạy nghề để có khả năng kiếm sống, đóng góp cho xã hội”. Hướng nghiệp và dạy nghề cũng là một trong những yếu tố thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục do Unicef đề ra. Học để làm, học để biết, học để cùng nhau chung sống và khẳng định mình”. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, hiện nay tại Việt Nam có hơn 70% người khuyết tật sống phụ thuộc vào gia đình, do đó việc hướng nghiệp và dạy nghề cho trẻ khuyết tật lại càng trở nên cấp thiết.

          Cũng như việc giáo dục và dạy văn hóa cho học sinh khuyết tật tại các trường chuyên biệt, việc hướng nghiếp và dạy nghề cho học sinh cũng phải khai thác mặt mạnh, hạn chế những mặt yếu của học sinh trong việc lựa chọn những ngành nghề phù hợp với đặc điểm khuyết tật và khả năng tiếp nhận của các em. Thực tế cho thấy, tại các trường dạy trẻ khiếm thính, đại đa số các em đều có thể mạnh là óc quan sát và đôi mắt tinh nhanh, các em có đôi bàn tay khéo léo, tài bắt chước rất nhanh và có khiếu thẩm mỹ. Để khai thác thế mạnh này, những ngành nghề cần được các trường khiếm thính chú trọng để đưa vào giảng dạy là các ngành nghề như: đan, thêu, may, móc, nữ công gia chánh, mộc mỹ nghệ, uốn tóc- hớt tóc, trang điểm…

          Qua nhiều năm tổ chức dạy và học nghề cho học sinh tại trường Khiếm thính Lâm Đồng, những ngành nghề đan, thêu, may … đã phát huy được thế mạnh và các em có nhiều ưu thế vượt trội hơn so với các em học sinh bình thường khác, những sản phẩm do các em làm ra đều đảm bảo chất lược và mỹ thuật không thua kém gì các cơ sở sản xuất bên ngoài và được khách tham quan cũng như dư luận đánh giá rất cao. Một điều đáng mừng đại đa số các em  đều tìm kiếm được việc làm để kiếm sống, đóng góp cho gia đình và xã hội; có em mở được tiệm may, tiệm uốn tóc, nhiều em khác tham gia thêu – đan tại các cơ sở sản xuất bên ngoài, trong đó có những cơ sở thêu tay nổi tiếng như cơ sở thêu tay Hữu hạnh tại TP Đà Lạt.

          Về nội dung giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, một hạn chế của loại hình trường giáo dục chuyên biệt là sự giáo dục tách biệt với cộng đồng, trẻ sống trong môi trường hạn chế về mọi mặt giao tiếp và phát triển các kỹ năng giao tiếp trong cộng đồng. Chính vì điều này, một số nhà nghiên cứu về tật học cho rằng “Hiệu quả giáo dục trong các trường chuyên biệt rất thấp. Nhiều học sinh sau khi tốt nghiệp phải làm lại từ đầu để tái hóa nhập xã hội” (Tiến sỹ Nguyễn Xuân Hải – ĐHSPHà Nội – GD trẻ khuyết tật – NXB GD 06/2009). “Hiệu quả giáo dục thấp” trong khi chi phí cho các trường chuyên biệt rất cao. Trong khi đó , điểm tồn tại của GD hòa nhập “Cái chưa thích ứng” giữa “Đứa trẻ” và chương trình GD chưa được giải quyết và một khi trẻ không theo được chương trình thì trẻ tự bị loại bỏ” . Như vậy có nên duy trì các trường GD chuyên biệt hay không ? Đây là vấn đề cần nhiều bàn cãi, cần nhiều nghiên cứu mới có thể kết luận được.

          Tuy nhiên, để khắc phục phần nào những hạn chế của loại hình GD chuyên biệt, công tác giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp cho trẻ khuyết tật cần được các trường chuyên biệt đặt ra và thực hiện một các nghiêm túc. Vấn đề được đặt ra là GD các em những nội dung gì và bằng cách nào để trẻ  khả năng sống hòa nhập với cộng đồng ? Như ta đã biết, kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp có nội hàm rất rộng lớn và rất phong phú mà ngay cả người bình thường, người có học vấn cao cũng chưa chắc đã hiểu  biết và thực hiện hết được . Như vậy, nội dung GD kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp đối với trẻ khuyết tật về thính giác phải được xác định rõ ràng và thu gom trong một phạm vi cần thiết. Điều đó có nghĩa là cần GD cho trẻ những vấn đề thực sự “Cần “và “Thiết” để trẻ có thể sống hòa nhập với cộng đồng theo các tiêu chuẩn phổ thông, phổ biến và gần gũi với cuộc sống sau khi các em tốt nghiệp ra trường. Đối với vấn đề này, ta cần có cái nhìn tổng quát về hệ thống của QTGD trẻ khiếm thính tại các trường chuyên biệt. Các yếu tố tạo nên hệ thống này đều thống nhất, quan hệ chặt chẽ. Và đều có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau. 

          Trước hết, yếu tố dạy và học văn hóa, là yếu tố giúp cho học sinh những kiến thức cần thiết về toán, tự nhiên – xã hội, ngôn ngữ… (Đọc – hiểu – viết) là những điều kiện để học sinh có thể giao tiếp với xã hội, để có thể trao đổi thông tin với xã hội và tiếp thu và tiếp thu cái mới, là điều kiện đầu tiên để học sinh có thể học nghề trong trường và tìm kiếm việc làm sau khi ra trường. Cùng với việc phát triển của CNTT, việc trao đổi tìm kiếm thông tin ngày càng trở nên đa dạng và việc người khiếm thính trở thành “Cư dân trên mạng” là điều hết sức bình thường.

          Mặt khác việc hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh khiếm thính tại các trường GD chuyên biệt – như đã trình bày – là một điều kiện rõ ràng thiết yếu để học sinh sống hòa nhập với xã hội. Một khi trẻ có khả năng kiếm sống đóng góp cho gia đình và xã hội trẻ sẽ trở nên tự tin hơn, khẳng định được mình khi chung sống với xã hội và điều quan trọng là các em sẽ làm chủ được cuộc đời mình. Tuy nhiên, để việc GD kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp cho học sinh khiếm thính được thực hiện một cách trọn vẹn, một yếu tố không thể thiếu tham gia vào quá trình GD học sinh là quá trình GD đạo đức và các kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp cho học sinh. Nội dung của quá trình này phải tuân theo các chuẩn mực do xã hội quy định và phải phù hợp với xã hội mà các em sẽ hòa nhập mang tính phổ thông, phổ biến (chúng ta khó có thể giáo dục học sinh về các tục lệ và chuẩn mực đạo đức của từng vùng, miền và của các dân tộc khác nhau). Quá trình này được thực hiện qua các hình thức sau:

          - Thông qua việc giáo dục quan hệ trẻ với các thành viên trong nhà trường

          - Thông qua việc lồng ghép giáo dục của các môn học, bài học.

          - Thông qua sinh hoạt lớp và sinh hoạt giới cờ.

          - Thông qua cuộc sống nội trú tại ngôi trường các em đang học và sinh sống

          - Thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp: Giao lưu, các hoạt động văn hóa, văn nghệ – TDTT, tham quan dã ngoại.

          - Thông qua các hoạt động GD ngoại khóa theo các chuyên đề. Nội dung của các hình thức GD nêu trên rất đa dạng và phong phú, nhưng quan trọng nhất vẫn là các nội dung quan hệ con người với con người và môi trường xung quanh (như giữ gìn và bảo vệ mội trường, thói quen sống hợp vệ sinh …). Ngay cả như tập cho trẻ chào cờ – hát Quốc ca bằng ngôn ngữ cử chỉ – điệu bộ, thăm viếng nghĩa trang liệt sỹ, tham quan giữa các hoạt động của các ngày lễ lớn cũng là cách giáo dục học sinh về ý thức xã hội, làm cho học sinh ý thức được ý nghĩa về quê hương, dân tộc … Một nội dung hết sức quan trọng trong việc giáo dục học sinh nói chung và “Giáo dục trẻ khuyết tật nói riêng là giáo dục về đạo đức gia đình”. Vừa qua, khi tôi có dịp tham quan các trường giáo dục trẻ khuyết tật của Hàn Quốc thì ngoài việc tận mắt chứng kiến các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại và sự quan tâm của xã hội đến với loại hình giáo dục đặc biệt này, một điều khá thú vị mà chúng tôi nhận thấy tại các cơ sở giáo dục đặc biệt đều có một ngôi nhà riêng biệt để tại đó họ giáo dục trẻ về sự giao tiếp và đạo đức gia đình. Tại ngôi nhà này trẻ được giáo dục rất nhiều điều, từ việc trang trí, sắp xếp trong gia đình, cho đến các phân công – phân việc trong nhà, từ việc bếp núc cho đến vị trí của các thành viên trong gia đình trong các bữa ăn, từ cách chào hỏi khi khách đến thăm nhà cho đến việc pha trà mời khách, cách bắt tay, xưng hô, thưa gửi …

          Một nội dung giáo dục kỹ năng sống khác cũng không kém phần quan trọng là giáo dục trẻ khiếm thính về giới tính, sức khỏe sinh sản và tình dục. Nội dung này trang bị cho học sinh nhiều kiến thức và kỹ năng cần biết bởi lẽ: Học sinh khuyết tật là đối tượng dễ bị xâm hại nhất; kiến thức của các em về tình dục và sinh sản hầu như không có gì ngoài những hình ảnh các em “Thấy được” qua sách báo và hình ảnh. Do đó, việc trang bị cho các em những nội dung như vừa nêu là một yêu cầu cầp thiết (nhất là các em bước vào tuổi dậy thì) để phòng chống một cách có hiệu quả việc xâm hại tình dục, giúp các em có những hành vi tình dục đúng đăn sau khi lập gia đình và thực hiện tốt công tác sinh sản để có kế hoạch hóa gia đình. Tuy nhiên, xét về mặt tập quán của người Việt Nam, giới tính và tình dục là một vấn đề khá nhạy cảm và tế nhị. Giáo dục giới tính. và tình dục đối với học sinh bình thường đã là một vấn đề quá khó khăn, đối với học sinh khiếm thính lại càng khó khăn hơn, nhưng được sự giúp đỡ của Ủy Ban dân số thế giới và từ những kết quả thử nghiệm ban đầu của các trường bạn, công tác này của  của trường Khiếm thính Lâm Đồng trong thời gian vừa qua cũng đã đạt được một số kết quả ban đầu, mặc dù những kết quả này hãy còn nhiều khiếm tốn và hạn chế.

          Một yếu tốkhác tham gia cấu thành QTGD trẻ khiếm thính là phương tiện giáo dục. Phương tiện giáo dục trẻ khiếm thính ngoài CSVC trường lớp như đối với các trường bình trường khác thì các phương tiện kỹ thuật đặc thù là máy trợ thính là một phương tiện bắt buộc phải trang bị cho trẻ khi trẻ đến học tại các trường chuyên biệt, tham gia giáo dục hoà nhập hoặc tham gia chương trình can thiệp sớm. Đối với đại đa số trẻ khiếm thính tại Việt Nam máy trợ thính là phương tiện duy nhất để giúp các em vượt qua rào cản về âm thanh để tiếp nhận “Ngôn ngữ nói” và cảm nhận các âm thanh của cuộc sống.

Cùng với sự phát triển của kỹ thuật điện tử, hiện nay có nhiều máy trợ thính kỹ thuật số đạt hiệu quả cao trong việc phục hồi sức nghe còn lại của trẻ khiếm thính; thậm chí như tại Hàn Quốc đa số trẻ khiếm thính được mô cấy điện cực ốc tai để phục hồi thính lực một cách tốt nhất.

Tuy nhiên, đối với đại đa số các gia đình có trẻ khiếm thính tại Việt Nam, máy trợ thính kỹ thuật số, mô cấy điện cực ốc tai là những phương tiện vượt xa khả năng của họ. (Hiện tại máy trợ thính kỹ thật số vào khoảng 60 đến 70 triệu đồngViệt Nam, mô cấy điện cực ốc tai từ 25 đến 30 ngàn USD cho mỗi bên tai)  - Hiện tại, tại các trường nuôi dạy trẻ khiếm thính các em học sinh đều được trang bị máy trợ thính có giá từ 2 đến 5 triệu đồng và chất lượng của máy không thể nào sánh được với các máy trợ thính hiện đại và điện cực ốc tai. Điều này đã gây khó khăn rất lớn cho các nhà trường trong việc phục hồi chức năng năng nghe - nói cho các em và việc đề ra mục tiêu “Trẻ được phục hồi chức năng nghe – nói  tuỳ theo mức độ khiếm thính và sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật” là mục tiêu vừa sức mà các nhà trường có thể hướng tới được.

           Ngoài máy trợ thính, các phương tiện nghe – nhìn khác và các phương tiện trang bị cho phòng thính lực cũng cần được quan tâm đầu tư để phục vụ các nhiệm vụ giáo dục học sinh.

            Nói tóm lại, qua việc phân tích các yếu tố cấu thành QTGD của các trường giáo dục chuyên biệt nuôi dạy trẻ khiếm thính để chung ta có được cái nhìn tổng quát và toàn diện các yếu tố trong một hệ thống giáo dục. Các yếu tố này có quan hệ mật thiết và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ khiếm thính, để từ đó chúng ta tập trung đầu tư, nghiên cứu từng yếu tố một, không xem nhẹ bất cứ yếu tố nào, nhằm mục đích làm cho hệ thống ngày càng mạnh hơn và hiệu quả hơn trong tổ chức và hoạt động thực tiễn.

          Mặt khác, đề tài về giáo dục trẻ khiếm thính là một đề tài khá mới mẽ và còn nhiều lĩnh vực chưa được nghiên cứu thấu đáo, thậm chí có nhiều đề tài còn gây nhiều tranh cãi. Vì vậy, nội dung của bài viết này có thể còn nhiều sai sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các Chuyên gia giáo dục đặc biệt và bạn đồng nghiệp.

          Xin trân trọng cám ơn

Thầy Nguyễn Hữu Hoa